đánh giá hiệu quả dự án đầu tư là một trong những từ khóa được tìm kiếm nhiều nhất trên google về chủ đề đánh giá hiệu quả dự án đầu tư. Trong bài viết này, iceo.vn sẽ viết bài Cách đánh giá hiệu quả dự án đầu tư thông qua chỉ số NPV và IRR
Trong việc phân bổ gốc vốn, ta đủ sức sử dụng rất nhiều phương pháp không giống nhau để đánh giá một dự án. Mỗi bí quyết đều có những ưu nhược điểm riêng. Trong post này tôi xin mang ra một số nhận định về việc dùng hai chỉ số IRR và NPV để phân tích mức độ phù hợp của một dự án.
Mục lục
1. Về NPV:
Khái niệm:
NPV (Net present value) được dịch là giá trị hiện nay ròng, có nghĩa là giá trị tại thời điểm hiện giờ của toàn bộ loại tiền dự án trong tương lai được chiết khấu về hiện tại:
NPV = trị giá hiện tại của dòng tiền vào (thu) – trị giá hiện tại của định dạng tiền ra (chi)
Ý nghĩa:
Nếu NPV dương thì dự án đáng giá. vì sao lại đáng giá, bởi suất chiết khấu đang là chi phí cơ hội của dự án, do đó, nếu đã khấu trừ ngân sách cơ hội mà luôn luôn có lời thì dự án có lợi tức kinh tế. do vậy, khi phân tích dự án bằng NPV cần chú ý đến trị giá của suất hoa hồng (thường bằng với lãi suất của cơ hội đầu tư tốt nhất nhà đầu tư đặt được nếu không đầu tư vào dự án đã được nghiên cứu. Các yếu tố ảnh hưởng tới suất chiết khấu này được nghiên cứu kỹ trong phần sau của bài viết này) và nhìn thấy NPV có dương hay không. Nếu giống như NPV dương có nghĩa là khoản đầu tư có lời bởi trị giá của thể loại tiền mặt sau khi khấu hao đã cao hơn mức đầu tư ban đầu.
Thông thường NPV k chỉ được coi là chỉ số mà còn được xem là phương thức tốt nhất để phân tích khả năng sinh lời của phương án hay dự án vì ý nghĩa nôm na của nó lý giải mức lãi ròng của dự án sau khi đang thu hồi vốn đầu tư ban đầu và trang trải tất cả ngân sách (bao gồm cả lạm phát).
tuy nhiên bí quyết NPV này có nhược điểm là đòi hỏi tính toán chuẩn xác chi phí mà điều này thường khó thực hiện so với các dự án có đời sống dài. cho nên trong thực tế người xem tăng trưởng ngân sách vốn thành tỉ suất hoa hồng hay còn gọi là tỉ suất sinh lợi tối thiểu chấp thuận được – tỷ suất rào (thường do nhà đầu tư kỳ vọng trên cơ sở cân nhắc tính toán đến các yếu tố tác động vào dự án đầu tư). Một nhược điểm khác nữa của NPV đó là không cho biết cấp độ sinh lợi tính theo số lượng % vì thế ảnh hưởng đến việc khó lựa chọn lựa thời cơ đầu tư.
Tỷ suất rào (tý suất hoa hồng trong các báo cáo tìm hiểu khả thi)
Tỷ suất rào là tỷ suất hoàn vốn tối thiểu mà toàn bộ các khoản đầu tư cho một công ty cụ thể phải đạt được.
trước tiên khi tìm hiểu về tỷ suất rào, chúng ta cần đánh giá về chi phí sử dụng vốn của một dự án. Nó chính là chi phí bình quân gia quyền của các nguồn vốn không giống nhau của tổ chức: cả nợ và chủ sở hữu.
Vốn nợ mà các công ty sử dụng đều có một chi phí gọi là lãi suất phải trả cho các trái phiếu và các giấy nợ không giống. note rằng vốn góp của các chủ sở hữu cũng là ngân sách thực. ngân sách này là ngân sách cơ hội – tức là phần mà các cổ đông đủ nội lực kiếm được trên phần vốn của mình nếu họ đầu tư vào thời cơ tốt thứ hai ở cùng một mức nguy cơ. gợi ý, nếu nhà đầu tư có 100.000 USD tiền đầu tư vào cổ phiếu doanh nghiệp XYZ – một doanh nghiệp có giá cổ phiếu hay dao động dị thường, chi phí thời cơ của họ cho số tiền đó đủ nội lực là 14% – phần trăm sinh lời mà họ đủ nội lực đạt được cho một vụ đầu tư khác có mức rủi ro tương đương. cho nên, đối với một công ty lớn và ổn định, ngân sách cơ hội của cổ đông có thể là 10%; còn đối với một công ty công nghệ cao và khá rủi ro thì chủ sở hữu đủ nội lực trông đợi % sinh lời 18%. Nói một mẹo dễ dàng thì ngân sách vốn là ngân sách bình quân gia quyền của các nguồn vốn khác nhau của tổ chức.
Vậy tỷ suất rào hợp lý cho một doanh nghiệp cụ thể là bao nhiêu? Tỷ suất này dao động tùy theo từng doanh nghiệp. Thông thường, tỷ suất rào được lập trên mức đủ sức đạt được từ một khoản đầu tư k rủi ro, chẳng hạn giống như trái phiếu kho bạc.
phương pháp tính tỷ suất rào:
Tỷ suất rào = Tỷ suất không nguy cơ + Tiền phản ánh rủi ro của dự án
Bất cứ nhà đầu tư nào đều muốn được đền đáp xứng đáng cho sự k tất nhiên mà họ đã chịu. Về bản chất, các mỗi dự án đều có nhiều nguyên nhân k dĩ nhiên. Vì lý do vậy, các nhà đầu tư đòi hỏi các dự án tương lai phải chỉ ra được sự hứa hẹn khả dĩ.
Các dự án đầu tư không giống nhau sẽ có các tỷ suất rào khác nhau. Với các khoản đầu tư rủi ro thấp thì tỷ suất vào phải thấp hơn mức được áp đặt cho loại đầu tư nguy cơ cao hơn. gợi ý, một dự án thay thế dây chuyền lắp ráp bây giờ hay các bộ phận thiết bị chuyên dụng phải sử dụng tỷ suất rào là 10%, nhưng dự án sản xuất các loại hàng hóa mới thì phải dùng tỷ suất rào là 15%.
Xem thêm: Hướng dẫn phân tích tài chính cho doanh nghiệp mới nhất 2020
2. Về IRR
Khái niệm:
IRR (internal rate of return) suất thu lợi nội tại. Có nghĩa là suất sinh lợi của chính chính mình dự án, IRR là nghiệm của phương trình NPV=0. Nói mẹo không giống muốn tìm IRR chỉ cần giải phương trình NPV(IRR) =0. Đây là phương trình bậc cao, nếu có sự đổi dấu sẽ có nhiều nghiệm. Còn nếu k thì chỉ có 1 nghiệm.
Ý nghĩa:
IRR có thể tính bằng mẹo nội suy chặn trên chặn dưới, không những thế, nhờ áp dụng của Excel, việc tính IRR trở nên không khó khăn. Điều quan trọng là hiểu ý nghĩa của IRR. Nếu giá trị này lớn hơn trị giá suất chiết khấu (chi phí cơ hội) thì dự án đáng giá.
Hiểu một phương pháp chung nhất, tỉ lệ hoàn vốn nội bộ càng cao thì cấp độ thực thi dự án là càng cao. IRR còn được dùng để đo lường, bố trí các dự án có triển vọng theo thứ tự, từ đó đủ sức không khó khăn hơn trong việc cân nhắc nên thực hiện dự án nào. Nói hướng dẫn khác, IRR là tốc độ tăng trưởng mà một dự án đủ nội lực xây dựng được. Nếu giả định rằng toàn bộ các thành phần không giống của các dự án là giống như nhau thì dự án nào có tỉ suất hoàn vốn nội bộ cao nhất thì dự án đó có thể được ưu tiên thực hiện trước nhất.
mẹo IRR có ưu điểm là dễ tính toán vì k dựa vào chi phí vốn, rất thuận tiện cho việc so sánh cơ hội đầu tư vì giải thích cấp độ sinh lời dưới dạng %. Ý nghĩa cốt lõi của IRR là cho nhà đầu tư biết được ngân sách sử dụng vốn cao nhất có thể chấp thuận được. Nếu vượt quá thì kém hiệu quả sử dụng vốn. yếu điểm của IRR là không được tính toán trên cơ sở ngân sách sử dụng vốn do vậy sẽ có thể kéo tới nhận định sai về cấp độ sinh lời của dự án. Nhà đầu tư sẽ không biết được mình có bao nhiêu tiền trong tay.
Tỷ suất thu nhập nội bộ (IRR) là một công cụ nữa mà các nhà đầu tư đủ nội lực sử dụng để quyết định có nên tập kết toàn lực cho một dự án cụ thể, hay phân loại tính hấp dẫn của nhiều dự án không giống nhau.
IRR cũng có thể được so sánh với tỉ suất hoàn vốn trên đối tượng chứng khoán. Nếu một công ty k thấy dự án nào có IRR tốt hơn mức doanh số có khả năng tạo ra trên thị trường tài chính, doanh nghiệp đó có thể dễ dàng là đầu tư tiền của mình vào thị trường này thay vì thực hiện dự án.
phân tích dự án: NPV hay IRR
Nói chung, Quan sát IRR thì dễ hình dung vì số phần trăm cụ thể, Nhìn NPV bằng tiền rất khó diễn dịch. do đó người đọc dùng cả 2 mẹo để đánh giá.
trước nhất nếu xem xét hai chỉ số này trong cùng điều kiện thì tỉ suất hoàn vốn nội bộ và giá trị hiện tại thuần đều cho cùng một kết quả. không những thế có rất nhiều trường hợp thì IRR lại không hiệu quả bằng NPV trong việc tính toán và chiết khấu loại tiền. giới hạn to nhất của IRR cũng chính là ưu thế của nó: chỉ sử dụng một tỷ lệ hoa hồng duy nhất để đánh giá all các plan đầu tư. Mặc dù việc sử dụng một số lượng chiết khấu duy nhất giúp không khó khăn hóa quy trình tính toán, nhưng trong nhiều trường hợp điều đó lại dẫn đến những sai lệch. Nếu một tiến hành đánh giá hai dự án đầu tư, cả hai dự án cùng dùng chung một số lượng hoa hồng, cùng dòng tiền tương lai, cùng mức độ nguy cơ, và cùng có thời gian thực hiện ngắn, IRR là một hướng dẫn phân tích kết quả. bên cạnh đó bản thân tỉ lệ hoa hồng lại là một nhân tố động, nó luôn biến động theo thời gian. Nếu quy ước dùng lãi suất trái phiếu chính phủ làm lãi suất hoa hồng, lãi suất này đủ nội lực cải thiện từ 1% đến 20% trong vòng 20 năm, từ đó làm cho số lượng chiết khấu cũng chuyển đổi theo. Nếu không có sự điều chỉnh, tức là IRR k tính đến sự thay đổi của tỉ lệ hoa hồng, phương thức này sẽ không thêm vào với các dự án lâu dài.
Một kiểu dự án khác mà việc ứng dụng IRR sẽ không hiệu quả đó là các dự án có sự đan xen của loại tiền dương và định dạng tiền âm. ví dụ một dự án yêu cầu cần phải có kinh phí ban đầu là -50,000USD (dòng tiền âm) trong năm trước hết. Dự án này sẽ xây dựng 115,000 USD (dòng tiền dương) trong năm kế tiếp, sau đó cần tiếp ngân sách đầu tư -66,000USD trong năm thứ 3 vì có sự điều chỉnh lại dự án. giống như vậy thì áp dụng một số lượng IRR duy nhất là k thích hợp.
Một hạn chế nữa trong việc vận dụng IRR là phải biết được số lượng chiết khấu của dự án. Để tiến hành nghiên cứu dự án thông qua IRR thì ta phải so sánh nó với số lượng hoa hồng. Nếu IRR cao hơn tỉ lệ chiết khấu thì dự án là khả thi. không biết số lượng hoa hồng hoặc tỉ lệ hoa hồng vì tại sao nào đó không thể vận dụng cho dự án thì mẹo IRR sẽ không còn giá trị.
Xem thêm: Hướng dẫn các bước phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp 2020
Để khắc phục những hạn chế của mẹo IRR ta đủ nội lực sử dụng NPV.
ưu điểm của việc sử dụng NPV đó là bí quyết này cho phép sử dụng các tỉ lệ hoa hồng không giống nhau mà k dẫn đến sai lệch. song song cũng không cần phải so sánh NPV với chỉ số nào khác, nếu như NPV lớn hơn 0 có nghĩa là dự án là thích hợp về mặt tài chính.
Vậy thì vì sao IRR luôn luôn được sử dụng thông dụng hơn trong việc tính toán phân bổ nguồn vốn? Có lẽ cách thức này được ưa chuộng hơn chỉ vì quy trình tính toán của nó rất đơn giản. cách thức IRR đơn giản hoá dự án thành một con số duy nhất từ đó nhà cai quản đủ sức xác định được liệu dự án này có kinh tế, có khả năng đem lại doanh số hay k. Nhìn chung thì IRR là phương pháp đơn giản nhưng so với các dự án dài hạn có dòng tiền khác nhau và tỉ lệ chiết khấu không giống nhau, các dự án có dòng tiền k ổn định, thì IRR chẳng hề là chỉ số tốt mà NPV mới chính là sự lựa chọn đúng đắn.
Một gợi ý minh hoạ là các dự án giao thông vận tải hoặc khai thác khoáng sản, rạch ròi là sẽ có IRR thấp hơn các dự án trong lĩnh vực dịch vụ, chẳng hạn dự án mở một shop đồ ăn mau, trong khi NPV chắc chắc sẽ cao hơn. bên cạnh đó, NPV cao hơn không có nghĩa là dự án khai thác khoáng sản tốt hơn, vì chắc chắn lượng vốn ban đầu bỏ ra của dự án này cao hơn dự án trong ngành dịch vụ rất nhiều. Một lần nữa chúng ta thấy rằng IRR và NPV là những tool rất tốt nhưng có những điều kiện ứng dụng nhất định giống như vừa mới trình bày ở trên. vì vậy, khi so sánh hiệu quả của các dự án, cần nhìn thấy xét bản chất của ngành kinh doanh và chi phí vốn bỏ ra ban đầu để có những so sánh kết lý luận chuẩn xác.
Kết luận
Khi nghiên cứu nghiên cứu dự án, cần lưu ý rằng, các chỉ số trên là chỉ tiêu đánh giá tài chính. bây giờ, những người làm dự án còn chú ý đến NPV, IRR Kinh tế. Có nghĩa là lượng hoá các đại lượng kinh tế để tính kết quả của dự án đối với nền kinh tế. ví dụ như đầu tư 1 ngôi trường có thể lỗ về mặt tài chính nhưng nếu tính toán các giá trị kinh tế khác có được từ ngôi trường vào thì NPV kinh tế đáng giá. Hoặc dự án đầu tư vào một nhà máy công nghiệp chế tạo có lãi về mặt tài chính nhưng lại làm ô nhiễm môi trường thì NPV kinh tế có thể lại không đáng giá.
Trong nền kinh tế hiện đại, để đảm bảo công bằng và bảo vệ môi trường, thiên hướng chung là tất cả các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế sẽ phải trả cho các tác động ngoai lai mà họ gây ra với chủ thể khác. Một gợi ý là tool kinh tế giấy phép xả thải. Theo đó, các công ty xả thải phải chịu một khoản ngân sách nhất định cho việc làm ô nhiễm môi trường chung. bên cạnh đó, để phân tích NPV hay IRR kinh tế, cần các điều tra xã hôi học và kinh tế rộng lớn, trong đó có nhìn thấy xét tới các tác động ngoại lai gây ra bởi các all các chủ thể.
Nguồn: http://apmp.vn/